GIỚI THIỆU CHUNG
Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam
Ngày 29 tháng 6 năm 2006 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội, trong đó đã quy định về Bảo hiểm thất nghiệp và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Đây là chính sách mới có tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động và vấn đề an sinh xã hội; chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động bị mất do thất nghiệp và quan trọng hơn là hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp được học nghề, được hỗ trợ tìm việc làm để người thất nghiệp nhanh chóng trở lại thị trường lao động; đồng thời, người lao động bị thất nghiệp còn được hưởng chế độ bảo hiểm y tế.
Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp
Để tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan, tổ chức triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp; được sự hỗ trợ của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xây dựng và giới thiệu Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp được in lần thứ 2.
Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp được xây dựng trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: Luật Bảo hiểm xã hội; Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp; Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2010 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp (Thông tư này, thay thế thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/01/2009 và thông tư số 34/2009/TT-BLĐTBXH ngày 16/10/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) và các văn bản có liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp.
Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp được trình bày một cách logic theo trình tự tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, từ khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đóng bảo hiểm thất nghiệp, đăng ký thất nghiệp, nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, xét duyệt hưởng bảo hiểm thất nghiệp và chi trả trợ cấp thất nghiệp. Trong từng bước thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, xác định rõ quyền và trách nhiệm của người thất nghiệp, của Trung tâm giới thiệu việc làm, của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, của Cơ quan Bảo hiểm xã hội, của Cơ sở dạy nghề.
Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp gồm 08 chương (không kể phần giới thiệu chung):
Chương 1: Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Chương 2: Đăng ký thất nghiệp, chuyển hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Chương 3: Nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp và xét duyệt hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Chương 4: Chi trả trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, trợ cấp một lần và cấp thẻ bảo hiểm y tế.
Chương 5: Hỗ trợ tìm việc làm, hỗ trợ học nghề.
Chương 6: Tạm dừng hưởng, tiếp tục hưởng và chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Chương 7: Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm thất nghiệp.
Chương 8: Thông tin, thống kê, báo cáo về bảo hiểm thất nghiệp.
Kèm theo các biểu mẫu và phụ lục.
Kinh nghiệm các nước về lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp
Các chương trình bảo hiểm thất nghiệp trên thế giới rất đa dạng và ở một số nước chương trình này có các loại trợ cấp rất riêng và đặc thù nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng quốc gia.
Vào đầu những năm 1900, Vương quốc Anh, Đức, Đan Mạch và Thụy Điển đã đưa ra các chương trình bảo hiểm thất nghiệp đầu tiên và các chương trình bảo hiểm thất nghiệp được xây dựng dựa trên mối quan hệ rất chặt chẽ với các tổ chức Công đoàn (Hệ thống Ghen).
Tuy nhiên, tại Anh và Đức, bảo hiểm thất nghiệp dần tách ra khỏi hệ thống các tổ chức công đoàn trong khi tại Đan Mạch và Thụy Điển các tổ chức công đoàn được củng cố mạnh mẽ. Cho đến nay, các đặc điểm chính của bảo hiểm thất nghiệp công được hình thành tại bốn quốc gia này đang còn tồn tại vì cả Anh và Đức vẫn có các chương trình bảo hiểm nhà nước bắt buộc và hai quốc gia thuộc Bán đảo Xcanđinavơ (tức Thụy Điển và Đan Mạch) có các chương trình bảo hiểm tự nguyện được quản lý bởi các mối ràng buộc chặt chẽ với các tổ chức công đoàn.
Hệ thống Ghen là tên gọi dành cho hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở một vài quốc gia, tại đó các tổ chức công đoàn chịu trách nhiệm chính trong việc chi trả các phúc lợi xã hội, đặc biệt là trợ cấp thất nghiệp, chứ không phải Chính phủ hay người sử dụng lao động. Đây là hình thức chính của chi trả trợ cấp thất nghiệp tại Đan Mạch, Phần Lan, Ai-Xơ-Len và Thụy Điển. Trong hầu hết các trường hợp, quỹ thất nghiệp do các tổ chức công đoàn hay Liên đoàn lao động nắm giữ và điều phối và/hoặc một phần quỹ này được Chính phủ hỗ trợ. Người lao động trong nhiều trường hợp cần phải là thành viên của tổ chức công đoàn nào đó để nhận các khoản trợ cấp này, vì vậy từ khi có hệ thống Ghen tỷ lệ thành viên của các tổ chức công đoàn tại các quốc gia này tương đối cao hơn trước.
Nói chung những người nhận bảo hiểm thất nghiệp phải đăng ký tìm việc làm, luôn sẵn sàng, đủ khả năng và tích cực tìm việc làm và thường xuyên thông báo cho cơ quan chức năng để chứng minh hiện trạng hợp pháp của mình trong việc tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Cũng có những mô hình bảo hiểm thất nghiệp do Nhà nước trực tiếp quản lý với sự đóng góp bắt buộc của người lao động, người sử dụng lao động và trong một số trường hợp cả Chính phủ cũng đóng góp. Việt Nam đã lựa chọn chương trình bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc có cả người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Một báo cáo gần đây do Tổ chức Lao động Quốc tế ấn hành với tiêu đề “ Báo cáo Lao động Thế giới: An ninh Lao động và Bảo trợ Xã hội trong một Thế giới đang Thay đổi” ước tính rằng khoảng 75% trong tổng số 150 triệu người thất nghiệp trên toàn thế giới không nhận được sự bảo trợ đầy đủ về bảo hiểm thất nghiệp. Trong các quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế thì Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ai-Xơ-Len, Luc-Xăm-Bua, Hà Lan, Na-Uy, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Thụy Sỹ là các quốc gia cung cấp các hệ thống bảo trợ thất nghiệp hào phóng nhất. Báo cáo này cũng xác nhận Úc, Ca-na-đa, Ailen, Nhật Bản, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ là các quốc gia có hệ thống này ở “dạng trung bình”. Có ít hơn số người thất nghiệp ở các quốc gia này được hưởng trợ cấp thất nghiệp và mức trợ cấp thất nghiệp họ nhận được cũng thấp hơn so với các quốc gia thuộc nhóm trên.
Tại Ca-na-đa, trước đây gọi là bảo hiểm thất nghiệp, từ năm 1996 đến nay hệ thống này được gọi là Bảo hiểm việc làm do nội hàm thay đổi. Người lao động và người sử dụng lao động ở Ca-na-đa đóng góp vào quỹ quốc gia và Cục thuế Ca-na-đa chịu trách nhiệm thu các khoản đóng góp này và thông báo cho cơ quan Dịch vụ Ca-na-đa hay còn gọi là cơ quan hỗ trợ việc làm cho người lao động. Từ năm 1990, quỹ này không còn nhận được sự đóng góp từ Chính phủ nữa. Mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của mỗi người rất khác nhau tùy thuộc vào mức lương và thời gian làm việc trước đó của họ và tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực họ sinh sống.
Tại Hoa Kỳ, Bảo hiểm thất nghiệp là chương trình hỗn hợp mang tính liên bang và tiểu bang, nguồn tài chính cho quỹ này trích từ thuế theo tổng quỹ lương của người sử dụng lao động và được nhìn nhận như một dạng trợ cấp phúc lợi xã hội. Có các đạo luật quy định mỗi người lao động sẽ phải đóng góp ở cả hai cấp chính quyền (liên bang/ tiểu bang) cùng với yêu cầu đảm bảo hoàn thành đủ số tuần làm việc tối thiểu. Chính phủ liên bang đưa ra hướng dẫn chung về đối tượng và điều kiện hợp pháp hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Đối với hầu hết các bang thì thời hạn tối đa hưởng trợ cấp thất nghiệp là 26 tuần. Có thể có chương trình mở rộng trợ cấp tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng bang. Chính phủ liên bang sẽ cho các bang đó vay tiền nếu họ yêu cầu hỗ trợ.
Tại Trung Quốc, Chính phủ ban hành các đạo luật liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp nhưng cho phép tính linh hoạt đủ để các thành phố/khu tự trị có thể tự điều chỉnh mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian hưởng và các vấn đề khác liên quan đến chương trình này. Chỉ có người lao động ở các khu vực đô thị mới là đối tượng của chương trình bảo hiểm thất nghiệp, còn các khu vực nông thôn nằm ngoài chương trình này. Mỗi thành phố/khu tự trị chịu trách nhiệm thu các khoản đóng bảo hiểm và sử dụng các quỹ này để hỗ trợ cho chương trình bảo hiểm thất nghiệp của thành phố mình. Mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng thành phố/khu tự trị.
LỜI CẢM ƠN
Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)- Văn phòng tại Việt Nam trân trọng cảm ơn các chuyên gia về bảo hiểm thất nghiệp, các cán bộ của Cục Việc làm, Giám đốc các Trung tâm Giới thiệu việc làm cùng các cán bộ của các cơ quan, ban ngành liên quan như Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Tài chính, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã đóng góp ý kiến xây dựng Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp. Lời cảm ơn đặc biệt xin được gửi đến các chuyên gia và cán bộ dưới đây, những người đã trực tiếp tham gia soạn thảo Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp:
Ông John Carter, Chuyên gia tư vấn về bảo hiểm thất nghiệp.
Ông Lê Quang Trung, Phó Cục trưởng, Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.
Ông Dương Mạnh Hùng, Giám đốc Bảo hiểm thất nghiệp, Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.
Ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp và Quản lý lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.
Bà Khương Thị Kiều Oanh, Trưởng phòng Nghiệp vụ, Bảo hiểm thất nghiệp, Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.
- Bà Ngô Thị Loan, Cán bộ kỹ thuật, Văn phòng ILO Hà Nội.
Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp được soạn thảo lần hai (đã sửa đổi, bổ sung), tuy nhiên với nhiều nội dung, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những đóng góp chân thành của các tổ chức và cá nhân để hoàn thiện hơn nữa cuốn Sổ hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian tới.
|
Thay mặt Cục Việc làm, Bộ LĐTBXH
Nguyễn Đại Đồng
Cục trưởng, Cục Việc làm
Bộ LĐTB&XH
Hà Nội
Tháng 01/2011
|
Thay mặt Văn phòng ILO tại Việt Nam
Rie Vejs-Kjeldgaard
Giám đốc
Văn phòng ILO tại Việt Nam
Hà Nội
Tháng 01/2011
|
VIẾT TẮT
1. Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp: được viết tắt là Nghị định số 127/2008/NĐ-CP;
2.Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 10 năm 2010 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm thất nghiệp: được viết tắt là Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH;
3.Thông tư số 96/2009/TT-BTC ngày 20/05/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ tài chính đối với quỹ Bảo hiểm thất nghiệp: được viết tắt là Thông tư số 96/2009/TT-BTC;
4. Hướng dẫn số 1615/BHXH-CSXH ngày 02/06/2009 của BHXH Việt Nam hướng dẫn thực hiện thu, chi bảo hiểm thất nghiệp: được viết tắt là Hướng dẫn số 1615/BHXH-CSXH;
5. Hướng dẫn số 2035/BHXH-CSXH ngày 02/06/2009 của BHXH Việt Nam sửa đổi bổ sung Hướng dẫn số 1615/BHXH-CSXH về hướng dẫn thu, chi bảo hiểm thất nghiệp: được viết tắt là Hướng dẫn số 2035/BHXH-CSXH;
6.Hướng dẫn số 116/BHXH-CSXH ngày 15/01/2010 sửa đổi, bổ sung hướng dẫn số 1615/BHXH-CSXH ngày 02/06/2009 của BHXH Việt Nam hướng dẫn thực hiện thu, chi bảo hiểm thất : được viết tắt là Hướng dẫn số 116/BHXH-CSXH;
7. Bảo hiểm xã hội: được viết tắt là BHXH;
8. Bảo hiểm xã hội Việt Nam: được viết tắt là BHXHVN;
9. Bảo hiểm xã hội tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương: được viết tắt là BHXH tỉnh;
10. Bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh: được viết tắt là BHXH huyện;
11. Bảo hiểm y tế: được viết tắt là BHYT;
12. Bảo hiểm thất nghiệp: được viết tắt là BHTN;
13. Trợ cấp thất nghiệp: được viết tắt là TCTN;
14. Người lao động: được viết tắt là NLĐ;
15. Người sử dụng lao động: được viết tắt là NSDLĐ;
16. Hợp đồng lao động: được viết tắt là HĐLĐ;
17. Hợp đồng làm việc: được viết tắt là HĐLV;
18. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: được viết tắt là Sở LĐTB&XH;
19. Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội: được viết tắt là Trung tâm Giới thiệu việc làm;
20. Cơ sở dạy nghề: được viết tắt là CSDN.